Trang chủ > Nhân quyền > Vấn đề nhân quyền ở Việt Nam và sự vu khống bịa đặt

Vấn đề nhân quyền ở Việt Nam và sự vu khống bịa đặt

Tháng Tám 19, 2013

Trong những năm qua, các thế lực thù địch luôn vu khống, bịa đặt, cho rằng Đảng và Nhà nước ta vi phạm quyền con người, bóp nghẹt dân chủ, đàn áp tôn giáo… Nhưng thực tế đã chứng minh rằng vấn đề dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam ngày càng được thực hiện tốt hơn, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới.

1. Sự vu khống trắng trợn

Những năm gần đây, các thế lực thù địch liên tiếp vu cáo Việt Nam là một trong những nước vi phạm nhân quyền. Tại Hội nghị thường niên của LHQ về vấn đề nhân quyền, đại diện của một số nước phương Tây thường cho rằng Việt Nam thuộc nhóm nước vi phạm nhân quyền nhất thế giới.

Quốc hội Mỹ lấy ngày 11/5 là ngày nhân quyền cho Việt Nam.

Hàng năm, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố bản báo cáo về nhân quyền của gần 200 quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Năm 2001, bản báo cáo về Việt Nam đã có 49 trang, năm 2002 có gần 23 trang đã cho rằng “thành tích về nhân quyền của Việt Nam vẫn ít ỏi và tiếp tục có những vi phạm nghiêm trọng”.

Hai năm qua, Thượng nghị viện Mỹ vẫn để ngỏ vấn đề thông qua “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” (HR 2833) mặc dù chúng ta đã kiên quyết đấu tranh yêu cầu chính quyền Mỹ huỷ bỏ đạo luật sai trái này, song chính giới Mỹ vẫn chưa đáp ứng. Trong năm 2003 các thế lực cực hữu ở Mỹ hoạt động ráo riết hơn, tiếp tục vu khống trắng trợn Việt Nam vi phạm nhân quyền. Cụ thể là:

Ngày 3/4/2003, Hạ nghị sĩ Mỹ C.Xmít – Phó chủ tịch Uỷ ban đối ngoại Hạ viện Mỹ cùng một số hạ nghị sĩ khác đã chính thức trình lên Hạ viện Mỹ “Dự luật nhân quyền Việt Nam” . Do có sự phản đối mạnh mẽ, ngày 16/7/2003, Hạ viện Mỹ đã thông qua một số điều khoản bổ sung Dự luật chi tiêu đối ngoại của Bộ Ngoại giao Mỹ trong năm tài chính 2004 – 2005 (HR 4950), thực chất vẫn là Dự luật nhân quyền Việt Nam được đưa thành phần E trong Dự luật này với những đòi hỏi phi lý, can thiệp thô bạo chủ quyền Việt Nam.

Ngày 13/5/2003, Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế của Mỹ đã công bố bản báo cáo thường niên, trong phần về Việt Nam, in thành sách riêng dày 26 trang đã tiếp tục vu cáo: “tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam xấu đi”, “tăng cường đàn áp người thiểu số theo tôn giáo”, “kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động tôn giáo”, “các biện pháp mà Mỹ áp dụng để thúc đẩy tự do tôn giáo ở Việt Nam đã không đạt kết quả cụ thể nào”…

Một số nghị sĩ Mỹ còn vận động chính quyền Mỹ thông qua “đạo luật tự do thông tin Việt Nam 2003”. Đã có 37 nghị sĩ Mỹ viết thư cho lãnh đạo Việt Nam đòi trả tự do cho Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý; gần 40 tổ chức, cá nhân của Mỹ và phương Tây lên tiếng bênh vực, ủng hộ Phạm Hồng Sơn. Nữ hạ sĩ Mỹ Sanchez đã “hùng hồn” tuyên bố: “không quá 5 năm nữa, tự do và nhân quyền sẽ được trả lại cho dân tộc Việt Nam”.

Ngày 15/5/2003, Nghị viện Liên minh Châu Âu đã ra Nghị quyết về tự do ngôn luận và tự do tôn giáo ở Việt Nam, bày tỏ sự ủng hộ công khai đối với cái gọi là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” và một số đối tượng cơ hội chính trị, chống đối, kêu gọi chính phủ Việt Nam huỷ bỏ Nghị định 31-NĐ/CP…

Ngày 24/6/2003, Bộ Ngoại giao Mỹ đã tổ chức họp báo công bố báo cáo về “các hoạt động thúc đẩy dân chủ và nhân quyền: thành tích của Mỹ năm 2002 – 2003” đề cập tới 22 nước, trong đó đánh giá Việt Nam là nước “có những vi phạm nghiêm trọng dân chủ, nhân quyền”.

Ngày 4/9/2003, Nghị viện Liên minh Châu Âu thông qua báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới. Trong phần về Việt Nam, báo cáo này vu cáo nước ta vi phạm tự do tôn giáo, đề nghị Liên minh châu Âu tổ chức thảo luận rộng rãi hơn với các tổ chức phi chính phủ quốc tế để đưa ra một chính sách “chắc chắn và phù hợp” về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Ngày 17/9/2003, Chủ tịch Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã xuyên tạc và cho rằng: “Việt Nam tiếp tục vi phạm tiêu chuẩn quốc tế về các quyền con người, việc này sẽ cản trở các quan hệ giữa Mỹ với Việt Nam trong tương lai. Uỷ ban này còn khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách những quốc gia đáng lo ngại về tự do tôn giáo và có biện pháp trừng phạt nhằm thúc đẩy tự do và nhân quyền tại Việt Nam.

Ngày 1/10/2003, Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ tổ chức họp báo đã vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền”. Nhiều tài liệu được phân phát tại phòng họp báo, nội dung đòi Mỹ phải xem xét một chính sách mới đối với Việt Nam, tập trung vào vấn đề nhân quyền bằng tất cả biện pháp ngoại giao; đề nghị Ngoại trưởng Mỹ xác định “Việt Nam là nước đặc biệt quan tâm”; tăng cường chương trình tiếng Việt trên đài châu Á tự do, đài tiếng nói Hoa Kỳ…

Ngày 19/11/2003, Hạ viện Mỹ đã thông qua Nghị quyết HR 427. Nghị quyết này tập trung vào những nội dung: vu cáo Việt Nam “không tôn trọng tự do tôn giáo, tịch thu chùa chiền, bắt các tổ chức Phật giáo phải tham gia Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Nhà nước dựng lên; đàn áp, bắt bớ, quản chế các nhân vật Phật giáo, bất đồng chính kiến; do vi phạm tự do tôn giáo nên Việt Nam đã bị Uỷ ban tự do tôn giáo của Mỹ đề nghị đưa vào danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo. Đề nghị Quốc hội Mỹ chúc mừng hàng ngũ lãnh đạo của cái gọi là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” vừa được bầu. Yêu cầu chính phủ Việt Nam trả tự do cho những người bị cầm tù, quản chế vì vấn đề tín ngưỡng trong đó có Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ. Đề nghị Quốc hội Mỹ và Tổng thống Mỹ ban hành đạo luật nhân quyền Việt Nam. Chấp nhận yêu cầu của Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách các nước đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo…

Cũng với những nội dung trên, ngày 25/11/2003, Nghị viện châu Âu cũng thông qua một nghị quyết gọi là”tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam”.

Ngoài ra các tổ chức nhân quyền (Amnesty International, Human Right Watch…) tổ chức các hoạt động “hội thảo, hội nghị”, biểu tình, trao giải thưởng nhân quyền cho các phần tử cơ hội chính trị ở Việt Nam, mở đợt vận động đòi thả một số phần tử đang thi hành án…

2. Các tổ chức phản động lưu vong người Việt Nam ngày càng gia tăng cả về cường độ và tần số hoạt động chống phá, vu cáo ta vi phạm nhân quyền

Trong những năm qua, ở bên ngoài hàng trăm tổ chức phản động, với đủ loại danh xưng như: “chính phủ”, “mặt trận”, “phong trào”, “đảng”, “liên minh”… ra đời, với đủ loại chính cương, điều lệ, tuyên ngôn, tuyên cáo, giải pháp, lý thuyết, học thuyết, chủ thuyết “tái thiết Việt Nam thời hậu cộng sản”. Phần lớn những tổ chức này chủ trương không theo con đường hoạt động vũ trang, gây bạo loạn trong nước như các tổ chức “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng miền Nam” của Hoàng Cơ Minh, “Chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc Việt Nam” của Võ Đại Tôn, “Liên đảng cách mạng Việt Nam” của Hoàng Cơ Minh, “Mặt trận nhân dân hành động của Đặng Văn Minh… đã làm, mà chúng chuyển hướng sang hoạt động lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để kích thích mầm mống đa nguyên về chính trị, tác động phân hoá nội bộ ta theo phương thức “diễn biến hoà bình” với tham vọng từng bước làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Thời gian gần đây, các tổ chức phản động người Việt lưu vong gia tăng về cường độ và tần số hoạt động chống phá Việt Nam, vu cáo chúng ta vi phạm nhân quyền. 2 năm qua (2002 và 2003) chúng tập trung vào một số chiến dịch lớn sau:

– Chiến dịch lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền. Chúng tổ chức các hoạt động xuất bản các tài liệu với nội dung xuyên tạc chính quyền Việt Nam đã bắt giữ một số nhân vật “bất đồng chính kiến”, “người tù lương tâm”; cho rằng phải có những hoạt động phản đối đồng loạt và mạnh mẽ hơn nữa, phải cho thế giới thấy “bản chất” của chế độ ta; kêu gọi người dân trong nước ủng hộ cho cái gọi là “những chiến sĩ tự do” đang bị giam giữ như: Nguyễn Văn Lý, Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn.

– Chiến dịch treo cờ ba sọc ở một số bang và thành phố của Mỹ, núp dưới hình thức mới là biểu tượng cộng đồng.

– Chiến dịch kêu gọi các lực lượng phản động ở trong và ngoài nước “kéo đổ” tượng Hồ Chí Minh ở các công viên, phá hoại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bọn phản động nguỵ quân, nguỵ quyền cũ ở hải ngoại đã tiến hành “Đại hội toàn quân lực Việt Nam Cộng hoà” lần thứ 2 tại Little Sài Gòn (Calofornia – Mỹ) với sự có mặt khoảng 300 tên đại diện cho hơn 140 đoàn từ nhiều nước như Mỹ, Canađa, Nhật, Úc, châu Âu… Mục đích của chúng là: “Tập hợp các cựu quân nhân của Việt Nam Cộng hoà thành một khối thống nhất các hoạt động trên phạm vi toàn cầu, duy trì các lực lượng bên ngoài nhằm chống lại Nhà nước Việt Nam. Tại Đại hội, chúng đã thông qua một số nội dung: xưng danh tổ chức mới với tên gọi “Tập thể chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà hải ngoại”. Địa bàn hoạt động là tất cả các nước có người Việt Nam định cư, lấy California làm trụ sở chính. Tôn chỉ là không chấp nhận lập trường của Đảng Cộng sản Việt Nam, không hoà hợp, hoà giải với Đảng Cộng sản Việt Nam. Lấy quốc kỳ và quốc ca của chế độ cũ là biểu tượng. Liên kết bình đẳng với các lực lượng ngầm ở trong nước, chống phá Việt Nam cả kinh tế và chính trị, dùng người Việt trong nước làm nòng cốt để lật đổ chế độ cộng sản. Dùng lá phiếu tại Mỹ để buộc Chính phủ Mỹ gây áp lực với Việt Nam, đồng thời vận động sự hậu thuẫn ủng hộ quốc tế lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền…

Theo TS. Nguyễn Viết Thông – Phó Trưởng Ban TT-VHTW
Tạp chí Thông tin LLCT

cpv.org.vn

Chuyên mục:Nhân quyền
%d bloggers like this: